Câu chuyện dài hạn khi điện là trọng tâm của chuyển đổi năng lượng

Ẩm thực
Rate this post

Với sự tiện lợi và hữu ích của mình – điện đã trở thành nguồn năng lượng phổ biến trong tiêu dùng, sản xuất công nghiệp quy mô lớn …

Đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội. Ưu tiên phát triển năng lượng nhanh và bền vững, đi trước một bước, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái… ”là quan điểm, định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia được chỉ ra tại Nghị quyết số 55 của Chính phủ. Bộ Chính trị ngày 11 tháng 02 năm 2020. Và để hiện thực hóa cam kết Netzero của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2050 tại COP26, Chiến lược phát triển điện lực quốc gia Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Quy hoạch điện 8) đang được điều chỉnh theo hướng “xanh hơn “so với các Kế hoạch Dự thảo trước đó.

Câu chuyện dài hạn – khi điện là tâm điểm của quá trình chuyển đổi năng lượng đang là vấn đề nan giải, cần có nghiên cứu khoa học để đảm bảo đủ điện sạch cho quá trình chuyển đổi năng lượng theo hướng xanh và bền vững. vững chắc.

Chuyển dịch năng lượng để đạt được mức độ trung tính carbon vào năm 2050 là một nhiệm vụ rất khó khăn và đầy thử thách. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để Việt Nam chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Hiện nay, khoảng 2/3 tổng lượng phát thải quốc gia là từ ngành năng lượng, vì vậy tích hợp năng lượng và tiết kiệm năng lượng là hai trụ cột chính trong quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam …

Ông Chu Bá Thi – chuyên gia cao cấp về năng lượng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cũng như nhiều chuyên gia đều có chung nhận định, với việc sử dụng năng lượng hiệu quả – coi tiết kiệm năng lượng là “” nguồn năng lượng đầu tiên “góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cung cấp năng lượng – việc tích hợp các nguồn năng lượng trong sản xuất điện, để có một hệ thống điện “xanh” vận hành ổn định, linh hoạt, dự phòng thì cần phải có chiến lược bài bản.

Việc thay thế nhiên liệu hóa thạch và chuyển sang dùng điện đang là xu hướng hiện nay trên thế giới. Và tất nhiên, nguồn điện cũng phải “xanh”. Đó là, sẽ giảm dần nguồn nhiệt điện truyền thống sử dụng LNG để giảm phụ thuộc, nhiệt điện than sẽ phải nghiên cứu thay thế và loại bỏ nhiên liệu đốt than bằng amoniac và hydro để đạt được mục tiêu trung hòa carbon. . Các nguồn điện mới sẽ phải được sản xuất chủ yếu từ năng lượng tái tạo – chẳng hạn như điện gió, điện mặt trời, điện từ sóng biển, từ chất thải / sinh khối,… quy mô lớn.

Chỉ riêng tiềm năng kỹ thuật về điện gió của Việt Nam (bao gồm cả điện gió ngoài khơi), Ngân hàng Thế giới (WB) đã dự báo có thể lên đến 600GW. Trong khi đó, Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam mới nhất được công bố vào giữa tháng 6 năm 2022 cho thấy tiềm năng điện gió ngoài khơi (GNP) vào khoảng 160GW.

Đánh giá cao sự gia tăng mạnh mẽ của các nguồn năng lượng tái tạo, bao gồm việc bổ sung đáng kể các nguồn KNK trong Dự thảo Quy hoạch Tổng thể Điện lực 8 gần đây, với khoảng 7-8GW (7.000-8.000MW) vào năm 2030 và lên đến hơn 64GW vào năm 2045, các chuyên gia cho rằng, cần tính toán kỹ lưỡng về tiềm năng thực – có thể khai thác, trên cơ sở đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách để phát triển nguồn điện này.

Từ kinh nghiệm của Đan Mạch, để hoàn thành một dự án KNK công suất lớn phải mất 7-10 năm, ông Ulrik Eversbusch – Giám đốc Trung tâm Hợp tác toàn cầu, Cơ quan Năng lượng Đan Mạch cho biết: “Trước hết, ĐTM đòi hỏi phải lập kế hoạch cẩn thận và kỹ lưỡng; đồng thời phải gắn với quy hoạch không gian biển. Chúng tôi phải xem xét trong những trường hợp nào và ở những vị trí nào thì sự tồn tại của các trang trại gió ngoài khơi sẽ mâu thuẫn với các mục đích sử dụng khác của đáy biển ”.

Các nhà phân tích cũng đánh giá cao tiềm năng phát triển điện mặt trời của Việt Nam, với tổng số giờ nắng là 2.500 giờ / năm.

Ông Sean M.Lawlor, Chuyên gia năng lượng, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nên xem xét việc tạm dừng phát triển thêm điện mặt trời trong Dự thảo Quy hoạch tổng thể điện VIII: “Mặc dù có những khó khăn trong việc truyền tải, nhưng nếu Việt Nam quyết định dừng phát triển năng lượng mặt trời đến năm 2030 cần xem xét lại, vì với cơ chế khuyến khích và thu hút đầu tư đúng đắn, tôi nghĩ vẫn có thể. mục tiêu đến năm 2030, và Hoa Kỳ cũng rất quan tâm đến việc Việt Nam đầu tư vào hệ thống truyền tải điện của mình một cách nhanh chóng và thông suốt ”.

Rõ ràng, phát triển điện từ năng lượng tái tạo, trong đó điện gió và điện mặt trời là cơ hội cho Việt Nam. Mặc dù công nghệ đầu tư để sản xuất điện gió, điện mặt trời ngày càng giảm giá thành nhưng với sự bất ổn của thời tiết, để có thể tận dụng được các nguồn điện này để trở thành nguồn điện ổn định. Việt Nam bắt buộc phải đầu tư vào hệ thống lưu trữ.

Theo chuyên gia kinh tế, TS Võ Trí Thành – nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), nếu phát triển mạnh năng lượng tái tạo gắn với quá trình chuyển đổi số, Việt Nam có thể đồng thời đưa vào vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh. bức tranh.

“Điều quan trọng nhất ở đây là năng lực công nghệ. Công nghệ khả năng bao gồm các nguồn để phát điện và thứ hai, công nghệ số và chuyển đổi số gắn với truyền tải – ví dụ, giữa đầu tư truyền tải và đầu tư công nghệ – được gọi là – lưu trữ điện và công nghệ số để nó tính toán, tích hợp, cân bằng cung và cầu cộng lưu điện; Thứ ba là công nghệ lưu trữ điện năng. 3 điểm này là quan trọng nhất. Nếu công nghệ lưu điện rẻ và tốt thì nên quan niệm thị trường điện cạnh tranh ”- TS Võ Trí Thành nói.

Cùng quan điểm, theo nhiều chuyên gia, cùng với việc tính toán chi phí năng lượng tái tạo cho người tiêu dùng cuối cùng, cũng cần tính đến các chi phí để “xanh hóa” các thiết bị / pin dự trữ năng lượng tái tạo khi hết tuổi thọ. . sử dụng.

Theo ông Bùi Thúc Khiết, chuyên gia cao cấp về thủy điện, tiềm năng phát triển thủy điện của Việt Nam về cơ bản đã không còn, trong khi đây là nguồn điện linh hoạt, hỗ trợ ổn định hệ thống nhanh nhất khi các nguồn điện gió và mặt trời được tăng mạnh. Vì vậy, để đảm bảo vận hành ổn định hệ thống điện quốc gia, cùng với việc tính toán mở rộng các nhà máy thủy điện hiện có (như Đa Nhim, Hòa Bình, Yaly, Thác Bà, Sơn La, …) nhanh chóng xây dựng các nhà máy thủy điện cho hệ thống điện.

“Hiện nay chưa có hệ thống ắc quy dự trữ năng lượng những lúc dư thừa để bù vào những lúc thiếu hụt, đây là một trong những nhược điểm, phải có công nghệ tích trữ của thủy điện. Nhưng việc tích trữ năng lượng thủy điện cũng đòi hỏi xây dựng đồ sộ và tốn kém. Đây là con đường mở cho việc sử dụng năng lượng tái tạo nên điện lực phải tính đến việc xây dựng thêm các nhà máy lưu trữ ”, ông Bùi Thúc Khiết nói.

Các chuyên gia cũng cho rằng, sự vận hành an toàn của hệ thống điện phụ thuộc rất lớn vào nguồn điện ổn định và linh hoạt. Trong khi đó, tổng công suất các nguồn điện trong 8 dự thảo Quy hoạch điện gần nhất (cuối tháng 4 năm 2022) đến năm 2030 là khoảng 145.000MW với công suất thủy điện còn lại khoảng 20% ​​và các nguồn điện than, khí vẫn còn. còn tương đối lớn nên không đáng lo ngại khi năng lượng tái tạo (gió, mặt trời) chỉ hơn 30%.

Tuy nhiên, đến giai đoạn 2030-2045, tổng công suất toàn hệ thống có thể đạt 387.000MW (tức là gấp 5 lần so với hiện nay), trong đó năng lượng tái tạo (gió, mặt trời) chiếm hơn 50% so với thủy điện. . chỉ khoảng 10%, cộng với các nguồn điện linh hoạt khác như điện khí (bao gồm cả LNG) khoảng 20%, nếu Việt Nam không tính toán xây dựng các nguồn điện khác ổn định, linh hoạt sẽ rất khó vận hành. an toàn hệ thống cũng như có thể tận dụng tối đa các nguồn năng lượng từ NLTT.

Tại cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên vào đầu năm 2022 (14/2/2022), ông Alok Kumar Sharma – Bộ trưởng, Chủ tịch Hội nghị Cấp cao về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần thứ 26 (COP26) đề nghị Việt Nam nên xem xét khởi động lại điện hạt nhân như một “nguồn điện sạch” để phát triển năng lượng tái tạo một cách bền vững.

Về đề xuất này, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên nêu rõ: “Về phát triển điện hạt nhân, tôi rất đồng tình đó là xu thế tất yếu của thế giới. Vì đây là nguồn điện nền quan trọng nhất để chúng ta khai thác tiềm năng vô tận. năng lượng tái tạo. ”

Trong nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo, báo cáo công bố về triển vọng năng lượng Việt Nam trong nhiều năm qua, vấn đề đã được PGS.TS. TS Phạm Hoàng Lương – Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Quốc tế Việt – Nhật đặt ra, cần phải coi điện hạt nhân là nguồn cung cấp điện cho nghiên cứu, đồng thời là vấn đề cung cấp nhiên liệu cho các các loại phát điện.

“Trong phần về năng lượng Việt Nam, chúng tôi không thấy có kịch bản nào về phát triển điện hạt nhân của Việt Nam. Chúng tôi cho rằng khi phát triển năng lượng có lẽ chúng ta cũng phải quan tâm đến nguồn… Thứ hai là liên quan đến vấn đề khi giảm chúng ta giảm phát điện than, nhập khẩu than nhưng LNG thì ngược lại. Làm người thay thế, chúng tôi cũng phải nghĩ đến câu chuyện nhập hàng như thế nào, hệ thống cầu cảng, đặc biệt là giá thành trong thời gian tới. Cuối cùng, khi chúng ta nói đến khí thải ”- PGS. TS Phạm Hoàng Lương cho biết.

Phát triển năng lượng tái tạo thay thế năng lượng truyền thống là cơ hội lớn để Việt Nam hướng tới phát thải ròng bằng không, nhất là khi điện đã và đang trở thành trung tâm của quá trình chuyển đổi năng lượng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều điều phải tính đến, đó là cùng với vấn đề công nghệ và tài chính để phát triển NLTT là vấn đề xử lý nguồn thải từ các nhà máy điện này. Nhưng quan trọng hơn vẫn là đảm bảo an toàn hệ thống điện quốc gia, nhưng để có thể đối trọng, thay thế hoàn toàn nguồn điện than, giảm sự phụ thuộc vào nhiệt điện khí, điện hạt nhân cũng là vấn đề cần thiết. nghiên cứu và cân nhắc lâu dài.

Giải pháp được cho là hữu hiệu cả trước mắt cũng như lâu dài – được các chuyên gia khuyến nghị – là nâng cao nhận thức về sự hữu hạn của nguồn cung, để thực sự tạo ra sự chuyển biến từ nhận thức về hành vi của cộng đồng. về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.