Chuyển đổi năng lượng, tại sao phải chọn điện năng?

Ẩm thực
Rate this post

Các cuộc tranh luận từ cộng đồng, và ngay cả các chuyên gia năng lượng luôn nóng xung quanh vấn đề này. Câu hỏi đặt ra là “lấy gì để đảm bảo điện năng” khi nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao do quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng – khi lực lượng doanh nghiệp đang giữ vị trí chủ lực của nền kinh tế. đang phát triển mạnh mẽ và không ngừng phát triển – sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát? Khi việc chuyển đổi năng lượng – thay vì sử dụng than, dầu, khí, gas… sang điện năng – ngày càng trở nên phổ biến trong nhiều ngành và lĩnh vực, từ giao thông vận tải, cao ốc – đô thị, sản xuất. từ ngành đến dịch vụ, tiêu dùng trong từng hộ gia đình…

Việc chuyển từ xe máy chạy xăng sang xe máy điện, sử dụng bếp điện từ thay thế đun nấu bằng than, gas đã trở nên khá phổ biến ở nhiều thành phố lớn như Hà Nội, TP.

Theo tính toán, xe điện hiện chỉ chiếm khoảng 01% phương tiện giao thông đường bộ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, với chính sách năng lượng và môi trường của nhiều nước hiện nay, cùng với nỗ lực của các nhà sản xuất và sự chấp nhận, lựa chọn của người tiêu dùng, nhiều chuyên gia kỳ vọng đến năm 2030, phương tiện điện sẽ chiếm 7-10% tổng số phương tiện giao thông đường bộ. (cả công cộng và tư nhân).

Tại Việt Nam, từ năm 2005 – khi những chiếc ô tô điện đầu tiên (có thể dùng cả điện và bàn đạp) xuất hiện – đến nay, thị trường xe điện đã có đủ loại phương tiện, từ xe buýt điện đến xe buýt điện. đến ô tô cá nhân, xe máy điện … đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng, nhãn hiệu …

Trong các ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta, thể hiện rõ nhất là việc lựa chọn, chuyển đổi công nghệ sản xuất thép từ lò cao sang lò điện 100% nhằm thực hiện đồng thời hai mục tiêu: giảm phụ thuộc vào nguồn quặng thô. đang phải nhập khẩu nhiều (do các mỏ khoáng sản trong nước ngày càng cạn kiệt), đồng thời giảm tốc độ đốt than và dầu – những loại nhiên liệu phát thải nhiều và gây ô nhiễm môi trường hơn của loại hình công nghệ sản xuất. sản xuất thép lò cao trước đây.

Chưa kể, giá điện sản xuất hiện nay khá ổn định, không “lên xuống”, biến động cả về nguồn cung và giá cả như than hay xăng.

Ông Hà Đăng Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh (thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) nêu thực tế: “Chúng ta nhận thấy sự chuyển dịch từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch tự nhiên sang điện, phần lớn là giao thông vận tải và nhu cầu của các tòa nhà thương mại… đều chuyển sang dùng điện Chúng ta thấy rõ hiện nay xe máy cũng là xe máy điện, ô tô có ô tô điện, xe buýt nay cũng có xe buýt điện. các nguồn cung cấp cho nhu cầu công nghiệp, hiện nay họ cũng đang chuyển sang sử dụng động cơ điện, lò nung bằng điện ”.

Theo PGS. TS Phạm Hoàng Lương – Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Quốc tế Việt – Nhật, chuyển đổi năng lượng từ hệ thống sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang hệ thống có tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo ngày càng tăng. đang là xu hướng toàn cầu. Nhu cầu chuyển từ nhiên liệu hóa thạch sang điện năng theo các tiện ích và xu hướng tiêu dùng cho thấy điện là nguồn năng lượng chính của thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam.

“Từ xưa đến nay, khi có nhu cầu sử dụng nhiệt, chúng ta thường sử dụng nhiệt, nhưng bây giờ người ta sử dụng điện năng để cung cấp nhiệt… Hiện nay, với sự phát triển đặc biệt về tính thích nghi và tiện nghi, người dân sử dụng, nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng. ”- PGS. TS Phạm Hoàng Lương cho biết.

Theo chuyên gia năng lượng Nguyễn Anh Tuấn – nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), để hiện thực hóa cam kết của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về khí hậu. thay đổi (COP 26) để đưa lượng phát thải ròng về 0 vào năm 2050, điện từ năng lượng tái tạo (RE) trong Dự thảo Chiến lược phát triển điện lực quốc gia 2021-2030, tầm nhìn 2045 gần đây nhất (gọi tắt là Quy hoạch điện 8) đã được nâng lên thành khá cao – khoảng 32% vào năm 2030 và lên đến 54% vào năm 2045.

Theo tính toán, với kế hoạch tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2030 là 6,6% / năm (và hệ số co giãn của điện thương phẩm trên GDP ở mức 1,3 trong giai đoạn này) thì tăng trưởng điện bình quân khoảng 8% / năm .

Ông Nguyễn Anh Tuấn cho rằng chưa tính toán kỹ việc chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang điện của nhiều ngành (như giao thông, công nghiệp, xây dựng, tiêu dùng …) trên cả nước. Trong ngắn hạn và dài hạn, nguy cơ thiếu điện là rất lớn.

“Về cam kết của Netzero, không chỉ Việt Nam mà hơn 140 nước trên thế giới không chỉ chúng ta chuyển sang dùng điện mà nhiều nước chuyển sang cũng giảm sản lượng than, dầu. Điều đó có nghĩa là chúng ta cũng gặp gỡ những người mà họ cũng xoay quanh. Vì vậy sẽ có một yếu tố mới, một yếu tố mới của thiết kế hệ thống. Tôi nghĩ đó là điều chúng ta cần suy nghĩ. Bởi theo tính toán mới đây của chuyên gia Đan Mạch, trong các kịch bản xanh và kịch bản chuyển đổi năng lượng mạnh, nhu cầu năng lượng – nhu cầu điện có thể gấp đôi trong Quy hoạch điện 8 nếu chúng ta đi theo lối mòn. những con đường xanh ”- ông Nguyễn Anh Tuấn nói.

Việc chuyển đổi năng lượng từ sử dụng than, xăng, dầu, gas, gas … sang điện là câu chuyện của nhiều quốc gia và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Áp lực của ngành điện hiện nay không chỉ là làm sao cung cấp đủ điện cho nền kinh tế và đời sống với những nhu cầu chuyển dịch này mà còn phải tạo ra sự chuyển đổi xanh cho các nguồn cung cấp. Điều này đồng nghĩa với việc các dạng năng lượng để sản xuất điện cũng phải “xanh” hơn, “sạch hơn”, ít phát thải, thân thiện với môi trường…

Thực tế, hiện nay hệ thống điện của Việt Nam đã có gần 80.000MW công suất lắp đặt, khoảng 30% là năng lượng tái tạo (NLTT – gồm điện gió, điện mặt trời, điện từ sinh khối). Mặc dù sản lượng điện thương phẩm hiện nay của cả nước lúc cao điểm chỉ đạt hơn 45.000MWh (megawatt-giờ), nhưng nguy cơ thiếu điện luôn tiềm ẩn. Ngay từ đầu năm 2022 này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những khó khăn trong công tác đảm bảo cung cấp điện giai đoạn 2022-2025.

Áp lực trong vận hành an toàn hệ thống điện (khi nguồn điện không ổn định – từ NLTT – như nắng gió ngày càng tăng) gắn liền với câu chuyện đảm bảo chất lượng điện, nhất là đối với các ngành kinh tế – công nghệ. đòi hỏi tiêu chuẩn cao như sản xuất linh kiện điện tử, vi mạch thiết bị di động, máy tính – vốn là những ngành có thế mạnh về xuất khẩu và thu hút vốn FDI của Việt Nam cũng đặt ra nhiều thách thức. mới đối với ngành điện.

Leave a Reply

Your email address will not be published.