Một số đặc điểm của đạo Công giáo ở vùng Tây Bắc

Ẩm thực
Rate this post

Đặc điểm hình thành Công giáo ở Tây Bắc

Sự xuất hiện của người Công giáo ở Tây Bắc là do công cuộc truyền giáo của các thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris. Ban đầu chúng được gửi đến làm bộ trưởng cho binh lính Pháp. Sau đó, một số nhà truyền giáo phục vụ trong quân đội Pháp đã kết hợp việc chăm sóc nhu cầu tinh thần của sĩ quan và binh lính Pháp với việc truyền giáo cho người Kinh. Ngay từ đầu, việc ưu tiên truyền giáo cho các dân tộc thiểu số đã không phải là ưu tiên của các linh mục người Pháp.

Riêng ở Lào Cai là nơi đầu tiên xuất hiện công việc truyền giáo cho người Mông ở vùng Tây Bắc. Người truyền giáo đầu tiên tại Sa Pa cho người Hmông là cố thuyền trưởng kiêm nhà truyền giáo Savina, tên tiếng Việt là Cha Vi (thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris, gọi tắt là MEP).

Năm 1924 – 1925, Savina mời thêm hai nhà truyền giáo người Mông ở Vân Nam thuộc các Hội Truyền giáo Nội địa Trung Quốc đến Sa Pa để tăng cường công tác truyền giáo.

Từ năm 1921, thời điểm Savina rửa tội cho Ma A Thông ở bản Háng Đá (xã Hầu Thào, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), đến năm 1985, trải qua bao thăng trầm, vẫn còn 65 hộ người Mông ở Sa Pa giữ đạo. Cho đến năm 1980, ước tính người Hmông Việt Nam chỉ theo Công giáo với số lượng xấp xỉ 20.000 người, tập trung chủ yếu ở các trung tâm hành chính và quân sự của người Pháp ở huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Thắng… Phần lớn người Hmông vẫn theo truyền thống. các tôn giáo.

Như vậy, đặc điểm nổi bật về sự xuất hiện của các xứ đạo ở các tỉnh miền núi Tây Bắc về cơ bản bắt nguồn từ việc phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của sĩ quan, binh lính Pháp tham chiến ở Đông Dương trước năm 1954.

Chẳng hạn, ở tỉnh Hà Giang, trước năm 1945, tại thị xã Hà Giang có một nhà thờ Công giáo. Nhà thờ này chỉ dành cho công chức và binh lính Pháp. Do sự tàn phá của thời gian cũng như chiến tranh, nhà thờ này không còn nữa. Tuy nhiên, các tài liệu lịch sử trên cho thấy người Công giáo đã có mặt ở Hà Giang từ trước Cách mạng tháng Tám, mặc dù những người theo đạo gốc ở Hà Giang không hoàn toàn là người Việt.

Theo tài liệu của Ban Dân vận Tỉnh ủy Sơn La, trước năm 1954, một linh mục người Pháp đến đây truyền đạo. Các linh mục đến và ở đây khoảng 3 đến 5 năm đến truyền đạo cho người Thái ở khu vực thị trấn Thuận Châu, nhưng không có kết quả.

Ở Lai Châu, từ thời Pháp đã có cơ sở là đạo Công giáo. Một số viên chức làm việc cho Pháp đã cải đạo theo đạo, nhưng sau năm 1954 họ chuyển vào Nam.

Đặc điểm phân phối

Về địa lý hành chính, gần như toàn bộ vùng Tây Bắc nằm dưới sự quản lý của Giáo phận Hưng Hóa, với 9 tỉnh trong vùng. Một phần khác thuộc về quản lý của các giáo phận như Hà Nội, Phát Diệm, Bắc Ninh, và Lạng Sơn.

Tính đến năm 2015, riêng Giáo phận Hưng Hóa có 95 giáo xứ, 570 họ đạo với 235.000 tín đồ, tỷ lệ 3,9%. Về nhân sự, có 85 linh mục, trong đó có 75 linh mục triều và 10 linh mục dòng (Dòng Đa Minh, Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, Dòng Thừa Sai Đức Tin…), 110 đại chủng sinh đang học tại các chủng viện, 63 tiền chủng sinh, 60 đại chủng sinh; 2 nữ tu Dòng Thánh Phaolô Chartres, 6 nữ tu Dòng Đức Mẹ Phù Hộ, Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa với 270 nữ tu, 45 tập sinh, 130 đệ tử, 3.030 giáo lý viên.

Về cường độ tín đồ, đạo Công giáo ở Tây Bắc chủ yếu tập trung ở các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang. Các tỉnh còn lại, số lượng người theo dõi không quá 4.000. Vùng này tập trung nhiều vì là vùng trung du, nơi tập trung đông dân cư Việt Nam. Mặt khác, một số nơi tập trung vào các cơ quan đầu não hành chính của thực dân Pháp có ảnh hưởng đến các hoạt động Công giáo.

Đặc điểm của cư xá Công giáo Tây Bắc trước năm 1954 phụ thuộc vào các cơ sở hành chính của các tỉnh, thành do Pháp xây dựng. Nó còn phụ thuộc vào các trục giao thông chính.

Ngoài ra, nhìn lại lịch sử cũng cho chúng ta thấy mức độ tập trung của Công giáo ở Tây Bắc hoàn toàn phụ thuộc vào những đợt di cư kinh tế của thế kỷ 20. Những cư dân miền xuôi như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây (cũ, nay là Hà Nội) … di cư đến làm ăn, sinh sống đều mang theo đạo của họ. Họ tụ họp thành những làng gần nhau và vì cùng một tôn giáo nên dần dần những nơi cư trú đã hình thành nên những cơ sở tín ngưỡng, họ đạo, họ đạo.

Nhìn chung, trước năm 1954 ở Tây Bắc có 3 nhóm cư dân Công giáo: Nhóm tôn giáo gốc từ đầu thế kỷ 20, chủ yếu là người Kinh (tập trung chủ yếu ở Phú Thọ); Cư dân Công giáo là người dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Mông ở Lào Cai, Yên Bái) và sĩ quan, binh lính người Pháp theo đạo Công giáo.

Sau năm 1954, nhóm này được thay thế bằng nhóm người Kinh từ miền xuôi lên làm kinh tế mới ở Tây Bắc từ những năm 60 – 90 của thế kỷ XX.

Đặc điểm thành phần dân tộc

Đặc biệt miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều dân tộc anh em. Trong đó, dân tộc Tày, Nùng sinh sống chủ yếu ở vùng Đông Bắc; Dân tộc Thái, Mường tập trung ở Tây Bắc; Các dân tộc Hmông và Dao có mặt ở cả phía Đông và Tây Bắc. Cũng như các dân tộc khác, mỗi dân tộc ở đây đều có tôn giáo, tín ngưỡng riêng. Cho đến cuối nửa đầu thế kỷ XIX, cư dân miền núi phía Bắc Việt Nam chưa biết đạo Công giáo.

Vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự hiện diện của người Kinh và tín đồ Công giáo ở miền núi phía Bắc. Sau đó, các nhà truyền giáo bắt đầu truyền đạo cho các dân tộc thiểu số.

Cho đến năm 1954, đạo Công giáo đã có mặt hầu hết ở miền núi phía Bắc, với hàng nghìn tín đồ thuộc nhiều dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Hmông …

Hiện nay, đa số đồng bào Công giáo ở Tây Bắc là người Kinh. Tuy nhiên, nhìn vào thành phần dân tộc, ước tính đến nay, vùng Tây Bắc có khoảng 20.000 tín đồ trong tổng số hơn 200.000 tín đồ là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đông nhất là đồng bào Công giáo. Công giáo là người Mông, tập trung chủ yếu ở Lào Cai, Yên Bái, Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo Tây Bắc, số giáo dân là người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 12-15% tổng số tín đồ toàn vùng.

Đặc điểm của cộng đồng tôn giáo dân tộc

Có một thực tế là, quá trình phát triển kinh tế thị trường, chuyển đổi canh tác, giảm diện tích rừng đã ảnh hưởng đến cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong khi cộng đồng liên kết thông qua vai trò của già làng, thông qua lợi ích kinh tế cộng đồng không ổn định, thì yếu tố tôn giáo nổi lên như một chất keo bền chặt để gắn kết cộng đồng các dân tộc thiểu số với nhau.

Công giáo là tôn giáo lớn nhất ở Tây Bắc hiện nay, đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân nơi đây. Công giáo đã trở thành một thể chế liên kết chặt chẽ, ổn định, tồn tại xuyên thời gian và thể chế chính trị. Đặc điểm của cộng đồng Công giáo vùng DTTS là liên kết chặt chẽ, chịu sự quản lý thống nhất các hoạt động tôn giáo theo cơ cấu hành chính, tôn giáo từ cấp giáo phận, huyện, xứ, họ đạo. họ và địa điểm truyền giáo.

Cộng đồng tôn giáo dân tộc thể hiện mạnh mẽ ở việc lấy tín ngưỡng tôn giáo làm nhân tố liên kết các dân tộc. Các linh mục vùng Tây Bắc thường là những linh mục dày dặn kinh nghiệm nên có khả năng hội nhập văn hóa cao và rất sáng tạo trong các phương pháp truyền đạo, giữ tín đồ, quảng bá hình ảnh của tôn giáo mình. Có nhiều người biết gắn lễ nghĩa với phong tục cổ truyền của đồng bào, dịch Kinh thánh ra chữ quốc ngữ … Nhìn chung, họ là những người tốt, là hạt nhân để giữ đạo và phát triển đạo.

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành ở Tây Bắc từ năm 1990 đã thực sự hình thành một “thiết chế tôn giáo – dân tộc” trong cộng đồng người theo đạo Tin lành ở Tây Bắc. Đặc điểm của tổ chức này là có liên kết tôn giáo nên rất nhạy cảm vàNgoài yếu tố văn hóa tộc người, cộng đồng này lấy niềm tin tôn giáo làm sợi dây liên kết chính giữa các cá nhân, hình thành nên các tộc người có chung niềm tin tôn giáo.

Leave a Reply

Your email address will not be published.