Nên kìm hãm mong muốn tăng trưởng để ưu tiên ổn định giá cả

Ẩm thực
Rate this post

Áp lực lạm phát của nền kinh tế rất lớn

Tổng cục Thống kê mới đây công bố báo cáo cho biết, GDP quý II / 2022 của Việt Nam ước đạt 7,72% – mức cao nhất trong 10 năm qua, GDP 6 tháng đầu năm đạt 6,42%. Bạn đánh giá thế nào về kết quả này?

PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ và Thiết kế (Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh). (Ảnh: NVCC)

Tôi không ngạc nhiên về kết quả tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý II / 2022 và sáu tháng đầu năm 2022. Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ tăng trưởng GDP của thời điểm hiện tại so với cùng kỳ năm 2021 – Đó là khi tăng trưởng kinh tế ở mức thấp nhất mọi thời đại. Vì vậy, mức tăng trưởng cao là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Theo tôi, chúng ta không nên quá lạc quan và kỳ vọng quá nhiều vào tăng trưởng kinh tế năm 2022 khi nhìn vào những con số tăng trưởng cao trong nửa đầu năm.

Năm 2021, cả nước, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó có TP. Hồ Chí Minh bị tê liệt về kinh tế do đại dịch Covid-19. Do đó, khi Việt Nam mở cửa trở lại vào những tháng đầu năm 2022, hoạt động kinh tế đã nhanh chóng đón đầu và tạo ra sự bùng nổ về nhu cầu.

Đây là tác động bình thường của các hoạt động kinh tế – xã hội và điều này không phản ánh điểm sáng của nền kinh tế hay sự xuất hiện của các động lực tăng trưởng mới.

Vì vậy, chúng tôi ghi nhận kết quả tăng trưởng cao trong nửa năm qua, nhưng đừng quá vui mừng và chủ quan. Bởi theo tôi, sẽ rất lâu nữa Việt Nam mới có thể trở lại quỹ đạo tăng trưởng kinh tế như xu hướng trước đây.

Theo Tổng cục Thống kê, CPI bình quân quý II / 2022 tăng 2,96% và 6 tháng đầu năm tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản tăng 1,25%. Bạn nghĩ gì về mức độ lạm phát này?

Tôi cho rằng nhìn vào CPI để đánh giá lạm phát của Việt Nam trong tình hình hiện nay là hoàn toàn không chính xác. Việc đo lường và tính toán CPI không phản ánh mức tăng giá của nền kinh tế.

Trong 11 nhóm hàng được đưa vào rổ tính CPI thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng rất cao (38%). Trong khi đó, giá lương thực trong thời điểm này của năm 2021 đang ở mức rất cao do tình hình xã hội xa cách khiến nguồn cung lương thực khan hiếm và chi phí vận chuyển đắt đỏ.

Vì vậy, khi lấy giá lương thực, thực phẩm ở thời điểm hiện tại so với năm 2021 sẽ cho mức tăng không đáng kể.

Bên cạnh đó, do tỷ trọng lương thực, thực phẩm trong rổ tính CPI quá lớn nên đã lấn át hết các yếu tố đang hình thành xu hướng lạm phát của nền kinh tế, trong đó có giá xăng dầu.

Xăng dầu đóng một vai trò rất quan trọng trong chuỗi giá cả. Giá xăng dầu tăng ảnh hưởng đến nhiều mặt hàng khác, bao gồm cả giá sản xuất và tiêu dùng. Nhưng trong rổ hàng hóa, xăng nằm trong nhóm giao thông, nhóm này chỉ chiếm hơn 3% và xăng chưa đến 1% trong rổ hàng hóa. Do đó, việc tăng giá xăng dầu gần như không được ghi nhận vào rổ hàng hóa tính CPI tăng.

Thực tế, xăng dầu tác động rất mạnh đến mặt bằng chung của nền kinh tế, trong khi việc CPI tăng 2,44% chưa phản ánh hết tình hình bùng nổ giá hiện nay. Mọi người đang cảm nhận được điều này khi trực tiếp tham gia vào cuộc sống và chi tiêu hàng ngày.

Như ông vừa chia sẻ, giá xăng dầu tác động mạnh đến mặt bằng chung của nền kinh tế. Vậy với việc tăng giá xăng dầu vừa qua, ông đánh giá thế nào về áp lực lạm phát những tháng cuối năm 2022? Áp lực lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, thưa ông?

Tôi cho rằng, 6 tháng cuối năm 2022, áp lực lạm phát đối với nền kinh tế sẽ ngày càng lớn. Sự gia tăng giá được “truyền” qua nền kinh tế và có độ trễ về thời gian. Cho đến quý 3 và quý 4 năm 2022, nền kinh tế sẽ bị lạm phát “tác động” và khi đó “thuốc” điều trị lạm phát sẽ rất đắt.

Sự tăng mạnh của giá nguyên vật liệu bao gồm xăng dầu, đầu vào sản xuất, chi phí vận tải, … sẽ được nhìn thấy rõ hơn trong thời gian tới và thông qua kỳ vọng lạm phát của người dân.

Khi người dân cảm thấy mức tăng giá ngày càng mạnh, họ sẽ tăng chi tiêu để mua sắm hàng hóa, bảo vệ vốn thông qua các kênh trú ẩn an toàn như vàng, USD, bất động sản. Điều này càng làm tăng áp lực lên giá và làm phức tạp thêm việc điều hành chính sách tiền tệ.

Sự gia tăng giá được “truyền” qua nền kinh tế và có độ trễ về thời gian. Cho đến quý 3 và quý 4 năm 2022, nền kinh tế sẽ bị lạm phát “tác động” và khi đó “thuốc” điều trị lạm phát sẽ rất đắt.

Do đó, nếu không có các chính sách kinh tế vĩ mô kịp thời và quyết liệt, lạm phát được dự báo sẽ đẩy áp lực lạm phát vào cuối năm.

Khi lạm phát tăng quá cao, Ngân hàng Nhà nước buộc phải thắt chặt tiền tệ. Nhưng tôi nhận thấy lúc này thắt chặt tiền tệ không phải là biện pháp chống lạm phát hiệu quả vì khi thắt chặt tiền tệ thì khả năng tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp bị hạn chế, hoạt động sản xuất kinh doanh càng hạn chế. kinh doanh sẽ bị thu hẹp. Điều này làm suy yếu năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ của khu vực doanh nghiệp, làm cho lạm phát càng nặng nề hơn.

Trên thế giới, đã có nhiều quan điểm cho rằng các chính phủ thậm chí chấp nhận suy thoái kinh tế để kiểm soát lạm phát triệt để, phát huy khả năng phục hồi sau đó. Điều này nhằm tránh khả năng nền kinh tế vừa chịu lạm phát cao vừa bị đình trệ do hiện tại thiếu hụt nguồn cung và chi phí sản xuất đắt đỏ (thường được gọi là trì trệ – lạm phát). .

Đây cũng là điều mà Việt Nam phải đề phòng và có giải pháp xử lý kịp thời nếu không trong 6 tháng cuối năm và khi đó sẽ phải mất thời gian và chi phí chính sách tốn kém để kéo nền kinh tế thoát khỏi trạng thái tiêu cực. .

PGS.TS.  Nguyễn Khắc Quốc Bảo: Nên dẹp khát vọng tăng trưởng để ưu tiên ổn định giá cả
Mọi người đang cảm thấy lạm phát khi tham gia trực tiếp vào cuộc sống và chi tiêu hàng ngày. (Nguồn: Vneconomy)

Đừng tập trung quá nhiều vào GDP

Vậy với lo ngại lạm phát và đại dịch vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt, theo ông, yếu tố nào sẽ dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng trong năm 2022?

Ngay từ đầu năm, Chính phủ và các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô đã đưa ra nhiều gói kích cầu kinh tế. Tuy nhiên, tôi nhận thấy việc giải ngân các gói kích cầu này còn khá chậm.

Bên cạnh đó, đầu tư công được kỳ vọng sẽ mang lại những tác động tích cực, thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế và tạo động lực cho tăng trưởng. Nhưng trong thời gian gần đây, điều này cũng bị ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý và quy trình thực hiện của các cuộc điều tra, xử lý các vụ việc liên quan đến thị trường tài chính hay lĩnh vực y tế.

Việt Nam nên kìm hãm mong muốn tăng trưởng cao để ưu tiên giữ ổn định giá cả, ổn định vĩ mô, hỗ trợ đời sống người dân cũng như đảm bảo phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tôi cho rằng, đến nay, sự linh hoạt và thích ứng nhanh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ tạo ra sức bật và thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Nhưng khu vực kinh tế tư nhân đang gặp nhiều khó khăn về tiếp cận vốn, cung ứng nguyên liệu, chuỗi cung ứng, mua sắm thiết bị, đầu vào …

Nhiều quan điểm cho rằng, quá trình chuyển đổi số và đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sẽ mang lại động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Điều này theo tôi là hoàn toàn đúng về mặt ý tưởng hay lý thuyết, nhưng chưa thực sự được phát huy trong thực tế.

Khi nói về các chương trình, hành động của các ngành, địa phương, ai cũng nói đến chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc chuyển đổi số cụ thể như thế nào, tác động tích cực đến tăng trưởng như thế nào, cải tiến gì đối với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể để tạo ra những giá trị mới vượt trội vẫn còn rất chung chung.

Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc phải làm nếu chuyển đổi số cũng như khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 6-6,5%. Việt Nam có thể hoàn thành mục tiêu này không, thưa ông?

Việc Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 6-6,5%, thậm chí cao hơn là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng đưa ra dự báo tương tự.

Tuy nhiên, tôi vẫn đặt câu hỏi, tốc độ tăng trưởng này có ý nghĩa gì khi chúng ta so sánh với mức thấp của năm 2021?

Năm 2022, việc nhìn vào GDP để đánh giá kết quả hoạt động của nền kinh tế Việt Nam không còn phù hợp.

Theo tôi, trong bối cảnh hậu Covid-19 và cơn bão giá toàn cầu hiện nay, để đánh giá nền kinh tế, cần nhìn thêm các chỉ số như lạm phát, mặt bằng giá cả, ổn định lãi suất. – tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán ổn định, tỷ lệ thất nghiệp… Tất cả những điều này làm cho bức tranh kinh tế Việt Nam được đánh giá đầy đủ và phù hợp hơn.

Mỗi năm, nền kinh tế được đặt trong những bối cảnh khác nhau, vì vậy theo tôi, đừng quá chú trọng vào GDP mà quên đi những vấn đề khác!

Theo tôi, Việt Nam nên dẹp ham muốn tăng trưởng cao để ưu tiên giữ ổn định giá cả, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ đời sống người dân cũng như đảm bảo phục hồi sản xuất kinh doanh. của doanh nghiệp.

Cảm ơn ngài!

Chuyên gia Đức: EVFTA giúp phục hồi kinh tế Việt Nam

Chuyên gia Đức: EVFTA giúp phục hồi kinh tế Việt Nam

Cùng với EVFTA, các FTA hiện có giúp Việt Nam đa dạng hóa các đối tác thương mại, từ đó nâng cao khả năng thích ứng với …

TS Nguyễn Quốc Việt: Nền kinh tế Việt Nam đã sẵn sàng cất cánh

TS Nguyễn Quốc Việt: Nền kinh tế Việt Nam đã sẵn sàng cất cánh

Trong thời gian còn lại của năm 2022, nhiều “trợ thủ” sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế.

Leave a Reply

Your email address will not be published.