Tại sao các doanh nghiệp logistics không mặn mà với ĐBSCL?

Ẩm thực
Rate this post

Logistics được hiểu là dịch vụ vận chuyển và cung ứng hàng hóa một cách tối ưu nhất từ ​​nơi sản xuất đến nhà máy chế biến, sau đó xuất khẩu và đến tay người tiêu dùng. Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, thủy sản và trái cây của cả nước, nhu cầu hậu cần rất lớn, nhất là vào mùa thu hoạch lúa, trái cây như hiện nay.

Việc thiếu kho bãi tại các vùng sản xuất nông sản lớn, cửa khẩu khiến chi phí logistics của nông sản Việt Nam vốn đã rất cao.

Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản rất lớn. Điểm chung của các mặt hàng nông sản, thủy sản tươi sống là phải tiêu thụ ngay sau thời kỳ thu hoạch như trái cây, hoa, thủy sản tạo áp lực tiêu thụ rất lớn, phải sơ chế rất nhiều. Bên cạnh đó, còn có những mặt hàng nông sản chịu ít áp lực tiêu thụ hơn như cà phê, hồ tiêu, điều, gạo …

“Đặc thù của mặt hàng nông sản là cần phải tươi mới, có giá trị trong thời gian ngắn nên dịch vụ logistics đòi hỏi sự chuyên nghiệp, đồng thời, việc đầu tư cơ sở hạ tầng kho bãi cũng tốn kém hơn so với các loại hàng hóa khác.

Vì vậy, đến nay vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp logistics quan tâm. Thời gian qua, dịch vụ logistics mới chỉ phát triển mạnh ở một số tỉnh / thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm, trong khi nhiều vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung lại thiếu loại hình dịch vụ này. Tình trạng thiếu kho bãi tại các vùng sản xuất nông sản lớn và ùn tắc tại các cửa khẩu cũng khiến chi phí logistics của nông sản Việt Nam rất cao, thậm chí còn cao hơn ”, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho biết.

Theo tính toán, hiện chi phí logistics của nông sản Việt Nam chiếm 25 – 30% giá thành sản phẩm, trong khi Thái Lan chỉ chiếm khoảng 12,5% và bình quân thế giới là 11%.

Thời gian qua, các ngành hàng xuất khẩu như gỗ, gạo, trái cây, thủy sản gặp rất nhiều khó khăn khi không thuê được container rỗng, dù giá thuê cao gấp nhiều lần so với trước đây.

Hiện cả nước chỉ có 48 đơn vị làm nhiệm vụ bảo quản nông sản, thủy sản, cùng hàng chục nghìn xe đông lạnh, container lạnh phục vụ vận chuyển, nhưng con số đó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nông thủy sản. tươi cũng như phục vụ chế biến xuất khẩu.

Ngoài ra, vấn đề hạ tầng cầu cảng cũng là trở ngại cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản, nhất là các cảng nước sâu, bên cạnh đó do hệ thống logistics trong nước phân bổ chưa đồng đều và chưa hợp lý. Nông nghiệp cũng làm giảm hiệu quả của hệ thống này.

Có 3 trở ngại lớn trong lĩnh vực đầu tư logistics

Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đang đóng góp khoảng 90% sản lượng lúa, khoảng 65% thủy sản và khoảng 70% sản lượng trái cây xuất khẩu của cả nước, nhu cầu vận chuyển hàng hóa khoảng 18 triệu tấn / năm. .

Do thiếu trung tâm logistics và hệ thống trung tâm logistics vệ tinh, bãi container rỗng, cảng nước sâu cho tàu lớn vận chuyển hàng hóa nên đến 70% lượng hàng hóa của ĐBSCL phải đưa về các cảng. lớn ở TP.HCM, cảng ở Bà Rịa – Vũng Tàu khiến chi phí của doanh nghiệp tăng từ 10% – 40% tùy từng chuyến hàng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Ở góc độ quản lý, ông Trần Thanh Hải cho rằng, hình thành các trung tâm logistics hỗ trợ giao thương hàng hóa nông sản là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Hiện nay, thu hút đầu tư vào lĩnh vực logistics nói chung và logistics trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng đang là lĩnh vực ưu tiên, các cơ quan quản lý Nhà nước rất muốn đẩy mạnh. Tuy nhiên, ở góc độ doanh nghiệp, điều đó không dễ thực hiện ngay được, bởi 3 lực cản lớn:

Đầu tiên là vấn đề nhận thức. Đây là tầm quan trọng của hoạt động logistics gắn với sản xuất nông nghiệp mà hiện nay, có thể nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được.

Điểm chần chừ thứ hai là quy trình giải quyết thủ tục đầu tưnhất là các thủ tục đầu tư liên quan đến đất đai tại các địa phương khiến doanh nghiệp rất đắn đo.

Chẳng hạn, muốn xây dựng trung tâm logistics kho lạnh thì phải nằm trong quy hoạch hiện hành và được tỉnh phê duyệt.

Quy hoạch như vậy có thể mất nhiều thời gian để điều chỉnh, sau đó chuyển đổi mục đích sử dụng đất và một số quy trình khác thường mất từ ​​hai đến ba năm. Đó là lực cản rất lớn, không chỉ đối với các nhà đầu tư trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, đầu tư cơ sở hạ tầng logistics trong lĩnh vực nông sản, đặc biệt là kho lạnh Yêu cầu vốn cao hơn cơ sở hạ tầng hậu cần cho các mục đích khác.

Điều này có nghĩa là thời gian hòa vốn của doanh nghiệp là rất lâu, đối với nông sản thường làm hàng với khối lượng lớn nhưng giá trị trên một đơn vị sản lượng thấp nên chi phí thu được khi khai thác dịch vụ như cho thuê. kho lạnh sẽ thấp và điều đó có nghĩa là thời gian thu hồi vốn sẽ lâu hơn.

Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế thu hút hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực logistics như hỗ trợ tiền điện cho kho lạnh, vì kho lạnh sử dụng nhiều điện năng.

Mới đây, Bộ Công Thương đã tính toán có thể áp dụng cơ chế giá điện kho lạnh thay cho điện kinh doanh. Tuy nhiên, về phía địa phương, nếu thu hút đầu tư vào lĩnh vực này thì địa phương có cơ chế hỗ trợ một phần chi phí tiền điện cho các đơn vị kinh doanh kho lạnh hay không. Hay chi phí giải phóng mặt bằng và các chi phí liên quan đến thủ tục đầu tư ”, ông Hải đặt câu hỏi.

Leave a Reply

Your email address will not be published.