Tìm nguyên nhân khiến nhà đầu tư không mặn mà với các dự án PPP

Ẩm thực
Rate this post

Ngày 21/6, tại Hà Nội, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp với Tổng Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức sự kiện. Hội thảo: “Tìm kiếm phương thức hợp tác công tư hiệu quả trong các dự án xây dựng và khai thác đường cao tốc theo mô hình BOT tại Việt Nam”.

Toàn cảnh Hội thảo tìm kiếm phương thức hợp tác công tư (PPP) được tổ chức tại Hà Nội sáng nay (21/6) – Ảnh: Báo Giao thông

Theo các chuyên gia, Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Luật PPP) có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 đã khắc phục được ba “bệnh nan y” của đầu tư công trong khu vực công. quy trình đầu tư theo hình thức PPP, đó là: Tiến độ chậm; đội vốn; Chất lượng có nghi ngờ.

Tuy nhiên, kể từ khi Luật PPP có hiệu lực, dường như phương thức này chưa đủ hấp dẫn các nhà đầu tư, mặc dù dư địa huy động nguồn lực xã hội để đầu tư vào các dự án công với Nhà nước vẫn còn rất lớn. .

Tại buổi tọa đàm, PGS.TS. GS.TS Trần Chung – Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI) đưa ra góc nhìn của nhà đầu tư và lý giải nguyên nhân vì sao hợp đồng PPP không hấp dẫn. dẫn đầu các nhà đầu tư.

PGS. GS.TS Trần Chung cho rằng vẫn còn những vướng mắc lớn cần sớm tháo gỡ để có thể kích hoạt hình thức PPP hợp đồng dự án hạ tầng giao thông đường bộ trong thời gian tới. Đó là, sự bình đẳng giữa Nhà nước và nhà đầu tư trong hợp đồng PPP; vấn đề ngân sách; Giải tỏa; đa dạng hóa các hình thức hợp đồng PPP; ứng dụng tiến bộ khoa học hướng tới phát triển bền vững.

Nói rõ hơn về sự bình đẳng giữa nhà nước và nhà đầu tư trong hợp đồng PPP, PGS.TS Trần Chung chỉ ra bản chất của hình thức đối tác công tư là nhà nước và tư nhân cùng ký hợp đồng. hợp đồng phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi bên trong việc xây dựng công trình, cung ứng dịch vụ công.

Như vậy, hai chủ thể này là đối tác bình đẳng theo pháp luật dân sự thông qua hợp đồng dự án. Tuy nhiên, do Luật PPP không quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể này.

Theo quy định của Luật PPP, “cơ quan có thẩm quyền” quy định tại khoản 1 Điều 5 là Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong hệ thống hành chính quốc gia, các cơ quan này là cơ quan quản lý nhà nước.

Ở cương vị là cơ quan quản lý nhà nước, nhưng khi xuất hiện ở vị trí “đối tác”, phương thức hoạt động vẫn mang dấu ấn của cơ quan công quyền và cơ quan quản lý, dẫn đến sự bất bình đẳng giữa cơ quan có thẩm quyền và chủ đầu tư theo nguyên tắc trong dân sự. hợp đồng (hợp đồng dự án PPP).

“Thực tế, các cơ quan có thẩm quyền luôn nghĩ mình có quyền quản lý và nhà đầu tư là chủ thể chịu sự điều chỉnh. Vị thế của nhiều cơ quan quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn chưa thoát hẳn khỏi kiểu quản lý theo cơ chế “xin – cho” của thời bao cấp. Ông Trần Chung nhìn nhận.

Cũng theo PGS.TS. GS.TS Trần Chung, thời gian qua, việc chưa xác định đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể này trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư đã dẫn đến việc áp dụng phương thức này. có nhiều nhược điểm.

Trong đó, sự bất bình đẳng giữa “nhà nước và nhà đầu tư” là một nguyên nhân quan trọng không hấp dẫn được nhà đầu tư, dẫn đến không khí ảm đạm của môi trường đầu tư mới này.

Vì vậy, VARSI mong muốn hệ thống văn bản pháp luật sớm được nghiên cứu, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể này trong hoạt động xây dựng theo phương thức PPP và là cơ sở để xây dựng hợp đồng. trên đây nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.

Cũng liên quan đến vấn đề này, PGS.TS. TS Dương Đăng Huệ, Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế Doanh nghiệp (Bộ Tư pháp) cũng chỉ ra một số hạn chế cơ bản của pháp luật trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) (chủ yếu là pháp luật về hợp đồng BOT);

Trong đó có bốn hạn chế cơ bản đang diễn ra trên thực tế và gây nhiều khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư BOT, do đó, cần được các cơ quan nhà nước có liên quan nghiên cứu, tìm giải pháp khắc phục. phương pháp khắc phục.

Một trong bốn hạn chế là cơ quan ký hợp đồng lạm dụng chức vụ quyền hạn để buộc doanh nghiệp dự án, nhà đầu tư phải chấp nhận yêu cầu của mình, thậm chí có những yêu cầu không đúng quy định. quy định của pháp luật.

Theo PGS. PGS.TS Dương Đăng Huệ, một trong những đặc điểm rất quan trọng của hợp đồng dự án PPP; bao gồm cả hợp đồng BOT, là sự bất đối xứng về địa vị pháp lý của các bên trong hợp đồng này.

Với tư cách đại diện cho nhà nước, nắm quyền lực nhà nước, cơ quan ký hợp đồng thường có xu hướng lạm dụng chức vụ của mình để đảm bảo mình có lợi thế hơn nhà đầu tư. , doanh nghiệp dự án trong việc giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng dự án. Điều này tất nhiên có thể gây bất lợi cho các nhà đầu tư và kinh doanh dự án.

Lấy một ví dụ cụ thể, PGS. PGS.TS Dương Đăng Huệ cho biết, trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn Cam Lâm – Vĩnh Hảo, thuộc Dự án xây dựng một số đoạn đường. Cao tốc tuyến Đông Bắc – Nam giai đoạn 2017-2020, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (một bên ký hợp đồng) đã yêu cầu Liên danh nhà đầu tư chỉ được ký hợp đồng vay một loại hình vay. Đơn vị duy nhất là một tổ chức tín dụng.

Yêu cầu này không nhận được sự đồng tình của Liên danh nhà đầu tư vì các lý do sau: Thứ nhất, trái với Luật Doanh nghiệp 2020 (Khoản 3, Điều 7), theo đó doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền: “lựa chọn hình thức và phương thức huy động vốn ”; Thứ hai, trái với Luật PPP (Khoản 5, Điều 3), theo đó: “Bên cho vay là tổ chức, cá nhân cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP vay vốn để thực hiện hợp đồng dự án PPP”.

“Để hoàn thành dự án, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án có quyền sử dụng mọi phương tiện hợp pháp để huy động vốn. Do đó, việc cơ quan ký hợp đồng yêu cầu liên danh nhà đầu tư không được ký hợp đồng với bất kỳ chủ thể nào khác ngoài tổ chức tín dụng để vay vốn là trái pháp luật. , không thể được chấp nhận ”PGS. PGS.TS Dương Đăng Huệ chia sẻ.

PGS. TS Dương Đăng Huệ đưa ra đề xuất khắc phục những hạn chế của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực PPP. Một trong những khuyến nghị đó là, mặc dù Luật PPP mới có hiệu lực hơn một năm, nhưng thực tế cho thấy, đã nảy sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để giải quyết.

Do đó, đề nghị Quốc hội thực hiện giám sát việc thực hiện Luật PPP theo quy định tại Khoản 2 Điều 162 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, trong khi luật và các nghị định, thông tư hướng dẫn chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời, cần nghiên cứu, soạn thảo và ban hành mẫu hợp đồng dự án PPP; trong đó có mẫu hợp đồng dự án BOT làm cơ sở để các bên ký kết và thực hiện các loại hợp đồng này.

Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VIAC, đánh giá sự ra đời của Luật PPP được kỳ vọng sẽ tháo gỡ nhiều vướng mắc, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, thúc đẩy hợp tác công tư bền vững. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh rằng mô hình BOT không có lỗi và thực tế là BOT đang được sử dụng rộng rãi để thu hút nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông ở nhiều nước trên thế giới.

“Chỉ cần chúng ta có đầy đủ các quy định, hướng dẫn; Đặc biệt, các điều khoản của hợp đồng theo mẫu BOT sẽ mang tính hướng dẫn cho cả hai bên đối tác công tư, để hai bên dựa vào đó mà đàm phán, xây dựng và vận hành các dự án hợp tác. hiệu quả cho cả nhà đầu tư công và tư nhân ”. TS Vũ Tiến Lộc phát biểu ý kiến. /.

Leave a Reply

Your email address will not be published.